Suy dinh dưỡng đi tả làm nên vòng xoắn bệnh lý: đi tả dẫn đến suy dinh dưỡng trẻ bị suy dinh dưỡng lại có nguy cơ bị đi tả cao , gây ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng trẻ gánh nặng kinh tế Nhà ở từng lớp. - Không có thói quen rửa tay sau vệ sinh , trước khi chế biến thức ăn , trước khi cho trẻ ăn… Triệu chứng lâm sàng: Rotavirus gây viêm dạ dày ruột đặc trưng Lộ rõ ra rất bất ngờ triệu chứng đi tả phân nước , sất nôn. Thông thường nếp véo da nhanh , trẻ bị mất nước mức độ vừa nếp véo da chậm ( 2 giây ) chậm ( 2 giây ) mất nước nặng.
Rotavirus là căn nguyên đi hàng đầu gây đi tả nặng , nhập viện thậm trí mạng vong ở trẻ nhỏ trên cả thế giới cũng như ở Việt Nam. Trẻ bị ỉa chảy cấp do Rotavirus có tỷ lệ nhập viện cao gấp ba lần so với ỉa chảy do nguyên do khác. Tại Việt Nam , 55% trường hợp ỉa chảy cấp nhập viện ở trẻ nhỏ là do Rotavirus.
ỉa chảy cấp là một bệnh rất phổ thông , đứng hàng thứ hai sau nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính ở trẻ nít , là bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao.
|
| Ảnh minh họa: O5.com. |
nguyên do chính gây tử vong khi trẻ bị ỉa chảy là mất nước và điện giải , tiếp theo là suy dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng và ỉa chảy gây nên một vòng xoắn bệnh lý: ỉa chảy dẫn đến suy dinh dưỡng và khi trẻ bị suy dinh dưỡng lại có nguy cơ bị ỉa chảy cao , gây có tác động đến một điều gì đó lớn đến sự tăng trưởng của trẻ và là gánh nặng về kinh tế đối với gia đình và xã hội.
- Nguồn bệnh: Người và một số động vật như bò , cừu , khỉ , chó... Có xác xuất là ổ chứa virus. Virus rota có xác xuất gây bệnh trên động vật như khỉ , trâu , bò , cừu , ngựa , chuột , chó , mèo , thỏ... Chưa đủ tuổi pháp luật và có xác xuất từ đó lây bệnh cho người. Rota virus ở động vật có xác xuất lây truyền trực tiếp sang người hoặc tái tổ hợp với các chủng rota gây bệnh trên người.
- Lứa tuổi hay mắc bệnh: Nhóm trẻ từ 6 tháng đến 36 tháng. Nhiễm rota virus có xác xuất gặp ở trẻ sơ sinh và người lớn nhưng thường không có triệu chứng.
Ở Việt Nam có sự khác biệt về mùa mắc ỉa chảy do rotavirus giữa 2 miền Nam Bắc. Tỷ lệ mắc ỉa chảy do virus rota tăng cao vào mùa đông xuân ở miền Bắc , cao nhất từ tháng 9 đến 11 trong khi đó ở miền Nam bệnh không nước phụ thuộc theo mùa.
- Đường lây truyền: Virus rota cốt tử lây truyền qua đường phân - miệng , ngoại giả virus có xác xuất lây qua đường hô hấp. Virus rota có xác xuất lây ngoài cộng đồng hoặc lây chéo trong bệnh viện.
- miễn nhiễm của thân thể với Rotavirus: Trẻ dưới 3 tháng ít bị bệnh vì có sẵn kháng thể của mẹ truyền cho. Các loại kháng thể đóng vai trò quan yếu trong trông coi gồm:
+ Kháng thể tiết IgA: Có trong sữa mẹ và có xác xuất tồn tại đến 24 tháng , "một năm do đó nó sẽ bị lãng quên" trẻ mớm cơm mẹ có xác xuất được trông coi trước sự tiến công của rotavirus. IgA tiết ở niêm mạc tiểu tràng có vai trò chính trông coi chống nhiễm virus rota.
+ Kháng thể dịch thể IgM: hiện ra sớm trong máu , đạt nồng độ cao nhất trong thời đoạn cấp tính và giảm dần sau 10 ngày. IgG đạt nồng độ thấp trong thời đoạn cấp và tăng cao trong thời đoạn hồi phục.
Các nhân tố nguy cơ:
- Trẻ bú bình không đảm bảo vệ sinh , nguy cơ ỉa chảy cao gấp nhiều lần so với trẻ bú mẹ không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả hoặc không bú bình.
- Ăn bổ sung không ngay thẳng cách: Cho trẻ ăn thức ăn nấu để lâu ở nhiệt độ phòng , thức ăn bị môi trường ô nhiễm trước và sau khi chế biến.
- Nước uống không sạch ( không đun sôi hoặc để lâu ) hoặc nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm.
- phương tiện , tay người chế biến thức ăn bị nhiễm bệnh.
- xử lí chất thải đã bị lây bệnh không ngay thẳng cách , quan niệm phân trẻ nít không bẩn như phân người lớn.
- Không có nếp rửa tay sau khi đi cầu , trước khi chế biến thức ăn , trước khi cho trẻ ăn…
Triệu chứng lâm sàng:
Rotavirus gây viêm bao tử ruột rất đặc thù bởi sự hiện ra hoàn toàn không có một dấu hiệu gì báo trước của các triệu chứng ỉa chảy phân nước , sốt và nôn. Triệu chứng thường hiện ra sau thời đoạn nung bệnh 2-3 ngày và kéo dài khoảng 5-7 ngày. Chừng độ tai hại của bệnh có xác xuất từ không triệu chứng đến ỉa chảy mất nước nặng , thậm chí dẫn đến tử vong. Nôn và đi sông phân tóe nước là 2 đặc thù lâm sàng thường gặp trong viêm bao tử ruột cấp do rotavirus mà ít thấy trong các nguyên do khác. Thường nhật trẻ phát khởi bệnh với triệu chứng nôn và sốt sau thời gian ấy là ỉa chảy tóe nước nhiều lần trong ngày , có xác xuất kéo dài đến 10 ngày. Phân thường không có nhày máu. Hồ hết những trẻ phải nhập viện vì ỉa chảy do rotavirus có cả 3 triệu chứng ỉa chảy , nôn và sốt.
Sốt là bộc lộ khá phổ thông của trẻ nhiễm Rotavirus. Kết quả từ các nghiên cứu trong nước và trên thế giới cho thấy hầu như tất thảy các bệnh nhân ỉa chảy cấp do Rotavirus có sốt trong đó gần 50% các trường hợp có bộc lộ sốt nhẹ dưới 38 , 5 độ C. Các triệu chứng thường gặp khác như nôn ( 100% ) , biếng ăn ( 97 , 67% ) , nhấm nhẵng ( 90 , 7% ). Ỉa chảy cấp do Rotavirus là nguyên do gây mất nước đứng hàng thứ 2 sau bệnh tả , do số lần ỉa chảy trong ngày thường 10-20 lần , một số trường hợp trẻ có xác xuất đi sông trên 20 lần/ngày.
Khi mắc ỉa chảy có xác xuất gây có tác động đến một điều gì đó đến tình trạng tất cả thân thể của trẻ như suy dinh dưỡng và các bộc lộ khác. Do vậy trẻ cần được đánh giá các bộc lộ sau:
- Tình trạng dinh dưỡng và thiếu các nhân tố vi lượng.
- Sốt và các bộc lộ nhiễm khuẩn kèm theo.
- Nhiễm toan chuyển hóa: thở mạnh , sâu , môi đỏ.
- Thiếu Kali: Trướng bụng , liệt ruột sinh thực , loạn nhịp tim , nhược cơ toàn thân.
- chừng độ mất nước: căn cứ vào các dấu hiệu mất nước để phân loại mất nước cho trẻ bị ỉa chảy. Để đánh giá chừng độ mất nước của trẻ cần:
+ xem xét kỹ lưỡng toàn trạng trẻ: tỉnh ngủ thường nhật khi chưa có mất nước , vật vã kích thích khi có mất nước hoặc mệt lắm li bì khi mất nước nặng.
+ Khát nước: Cho trẻ uống nước bằng cốc hoặc thìa để đánh giá chừng độ khát của trẻ. Trẻ uống thường nhật nhưng không thích lắm hoặc khước từ uống là trẻ chưa có bộc lộ mất nước. Trẻ khát nước uống một cách náo nức , vồ lấy cốc hoặc thìa để uống hoặc khóc khi ngừng cho trẻ uống là trẻ có bộc lộ mất nước vừa. Trẻ có xác xuất không uống hoặc uống kém do li bì là trẻ mất nước nặng.
+ Đánh giá độ chun giãn của da trẻ bằng cách véo da của trẻ ở vùng bụng theo chiều dọc thân thể rồi bỏ tay. Thường nhật nếp véo da mất nhanh , khi trẻ bị mất nước chừng độ vừa nếp véo da sẽ mất chậm ( dưới 2 giây ) hoặc rất chậm ( trên 2 giây ) khi mất nước nặng.
+ Mắt trẻ có trũng hơn thường nhật không.
+ xem xét kỹ lưỡng xem trẻ khóc có nước mắt không. Khi trẻ khóc to mà không có nước mắt là trẻ đã bị mất nước chừng độ trung bình.
+ xem xét kỹ lưỡng miệng lưỡi của trẻ xem có khô không. Miệng lưỡi khô khi trẻ có bộc lộ mất nước.
+ Thóp của trẻ có trũng hơn thường nhật không ( với những trẻ còn thóp ).
tấn sĩ , bác sĩ Nguyễn Thị Việt Hà
Bệnh viện Nhi trung ương
No comments:
Post a Comment